TRẦN ĐẨU VỚI QUÊ HƯƠNG VÀ ĐỒNG ĐỘI
Tôi với anh Trần Đẩu có nhiều chữ “đồng”: đồng niên, đồng hương, đồng ngũ, đồng môn, đồng tộc, đồng tuổi Đảng… Có lẽ vì thế mà sau nhiều lần đắn đo, anh chọn tôi là người đầu tiên đọc bản thảo tập sách của anh.
Một ngày thu nắng vàng. Chuông cửa nhà tôi reo. Mở cửa, tôi nhận ra Trần Đẩu. Ở tuổi 75, anh vẫn đeo ba lô, đội nón tai bèo, nụ cười tỏa nắng như thể vừa từ một miền ký ức nào đó trở về.
Tôi không báo trước cho anh về việc mình có mặt ở nhà. Trần Đẩu nói:
– Nhưng linh tính mách tôi rằng lần này thế nào cũng gặp anh. Tuần trước anh còn ở châu Âu với con cháu. Cuối tuần anh bay về Nam Định thăm mẹ. Và giờ này, gặp anh ở nhà.
Tôi mời người bạn có nhiều chữ “đồng” với mình vào nhà. Niềm vui thật khó tả.
Bên tách trà ấm, câu chuyện giữa hai người lâu ngày gặp lại cứ thế mở ra. Đẩu giở chiếc ba lô, lấy ra một tập giấy khá dày, đặt trước mặt tôi.
Anh nói:
– Đây là ý nguyện của tôi, cũng là tình yêu của tôi. Anh là người bạn, người anh hiểu tôi. Tôi nhờ anh đọc và cho ý kiến.
Câu chuyện giữa chúng tôi lại như “dòng sông cuộn chảy”. Dễ hiểu thôi, bởi đã lâu chúng tôi chưa có dịp ngồi với nhau. Chuyện gia đình, chuyện bạn bè, chuyện những năm tháng đã đi qua… hết chuyện này đến chuyện khác.
Rồi Đẩu bỗng trở nên trịnh trọng:
– Đã hết phần phụ, bây giờ mới đến phần chính. Đây là tập bản thảo…
Tôi bật cười. Nhưng cũng từ giây phút ấy, tôi hiểu người bạn trước mặt mình đang gửi gắm một điều rất nghiêm túc.
Đẩu vẫn nói như một “dòng sông cuộn chảy”: Vì sao anh viết? Viết cho ai? Và viết theo phương pháp nào?
Anh nói ngay:
– Không phải hồi ký nhé. Chỉ nói về quê hương và đồng đội. Những điều tôi mục sở thị, những gì đã gắn với mình như máu thịt.
Tôi hiểu.
Có những điều người ta viết vì nghề nghiệp. Có những điều viết vì trách nhiệm. Nhưng cũng có những điều đến một lúc nào đó, nếu không viết ra thì thấy mình mắc một món nợ.
Với Trần Đẩu, tôi nghĩ đó là món nợ với quê hương và đồng đội.
Rồi chúng tôi phải chia tay. Tôi tiễn Đẩu ra tận ngã ba. Nhìn dáng người bạn liêu xiêu dưới nắng thu, tôi bỗng nhớ lại một câu chuyện cách đây khoảng bốn mươi năm.
Cũng tại con hẻm nhỏ này, Trần Đẩu từng đến nhà tôi.
Ngày ấy, chúng tôi đều đã là những sĩ quan cấp tá. Vậy mà mãi đến lúc ấy mới có dịp thi vào đại học. Hai chúng tôi cùng thi Khoa Văn – Sử, Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Không may, thi xong, tôi bị tai nạn, phải nằm điều trị tại quân y viện. Đẩu thay tôi ghi chép bài vở. Cuối tuần, anh lại mang những trang ghi chép ấy đến bệnh viện cho tôi.
Một việc tưởng nhỏ, nhưng trong đời lính, đời bạn bè, có những việc nhỏ lại ở lại rất lâu.
Bốn mươi năm sau, người bạn năm nào vẫn tìm đến tôi. Lần này, anh không mang vở ghi bài cho một người bạn đang nằm viện. Anh mang đến một tập bản thảo – những trang viết mà anh đã ấp ủ, chắt lọc từ ký ức, từ quê hương và từ những năm tháng chiến đấu.


QUÊ HƯƠNG VÀ ĐỒNG ĐỘI
Tôi đọc tập bản thảo có tựa đề “Vài điều cựu binh đặc công còn nhớ”, quyển một: “Đại đội thép và người cầm cờ xông vào Dinh Độc Lập”.
Bản thảo dày vài trăm trang khổ A4. Chỉ nhìn số lượng trang cũng đủ thấy tác giả đã bỏ vào đó không ít công sức. Nhưng điều làm tôi chú ý hơn cả không phải độ dày của tập sách, mà là cái tâm của người viết.
Đẩu về. Đêm ấy, tôi đọc một mạch bản thảo của người đồng đội có nhiều chữ “đồng” với mình.
Một cử nhân sử, lại được đào tạo và sống lâu trong môi trường văn chương, báo chí, nên những trang viết của Đẩu thấm đẫm cả tâm và nghề. Có tư liệu của người làm sử, có ký ức của người lính, có cảm xúc của người viết.
Bản thảo như một “dòng sông cuộn chảy”, nhưng tôi nhận ra hai mạch chính xuyên suốt: quê hương và đồng đội.
Quê hương trước hết là làng Hương Phú – nơi thấm đẫm những kỷ niệm tuổi thơ của tác giả. Nhưng rộng hơn, đó còn là vùng đất gắn với nơi phát tích của triều Trần: Tức Mạc, Thiên Trường…
Đẩu viết về quê hương không phải để kể công cho riêng gia đình mình. Anh dành sự trang trọng và biết ơn để nói về đất nhà Trần – một triều đại vẻ vang, để lại những dấu son đặc biệt trong lịch sử dân tộc.
Hương Phú trong trang viết của Đẩu vì thế không chỉ là một địa danh. Đó là một miền ký ức. Một miền đất đã nuôi dưỡng con người, trao cho con người căn cước và truyền thống.
Trong dòng họ ấy, con cháu hậu duệ của các thế hệ đi trước tiếp tục phát huy truyền thống. Người làm văn chương, người làm sử học, bác sĩ, kỹ sư, người làm công tác quản lý xã hội… Mỗi người một lĩnh vực, nhưng đều có một điểm chung: không quên cội nguồn.
Và trong dòng tộc ấy có Đại tá, nhà sử học Trần Đẩu – tác giả tập sách mà tôi đang đọc, đồng thời cũng là người bạn thân thiết có nhiều chữ “đồng” với tôi.
Nếu quê hương là nơi Đẩu tìm về, thì đồng đội là nơi anh gửi gắm phần sâu nặng nhất của đời lính.
Phần thứ hai trong bốn chương của tập sách được tác giả dành sự trân trọng đặc biệt để nói về đồng đội. Đó là Đoàn Đặc công 116, 429 – đơn vị anh hùng, một đơn vị lập công huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4-1975 trên chiến trường trọng điểm Biên Hòa và trục xa lộ Hà Nội – con đường dẫn vào Dinh Độc Lập.
Là Chính trị viên đại đội, trực tiếp cùng đồng đội chiến đấu, Đẩu không đứng ngoài để kể lại. Anh viết từ bên trong cuộc chiến. Những con người, những trận đánh, những khoảnh khắc sinh tử đã từng đi qua cuộc đời anh.
Bởi vậy, khi anh khắc họa “Đại đội thép”, người đọc không chỉ nhìn thấy một đơn vị chiến đấu mà còn nhận ra những con người cụ thể làm nên sức mạnh của đơn vị ấy.
Đó là Đỗ Đức Tốc, Phạm Huy Nghệ, Nguyễn Văn Quỳnh… Những cái tên có thể với người hôm nay chỉ là những dòng chữ trong một cuốn sách, nhưng với Trần Đẩu, đó là những người đồng đội bằng xương bằng thịt, từng cùng anh đi qua chiến tranh.
Đặc biệt, tôi chú ý đến câu chuyện Đẩu “đeo bám” việc đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Đại đội trưởng Phạm Duy Đô.
Có lẽ chỉ người từng cùng nhau sống chết trong chiến tranh mới hiểu vì sao một người lính sau hàng chục năm vẫn không buông một món nợ như thế.
Trong tập bản thảo có những lá thư Đẩu gửi Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, khi ông còn là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, cùng các cơ quan, đơn vị từ năm 2018, để đề nghị ghi nhận, phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho người thượng sĩ, người đại đội trưởng của mình trong những năm đánh Mỹ.
Tôi đọc những trang ấy và nghĩ: Có những người viết về đồng đội để nhớ. Có người viết để kể. Nhưng cũng có người viết để trả lại cho đồng đội những gì họ xứng đáng được nhận.
Đó chính là điều làm tôi xúc động.
Khép lại tập bản thảo khi trời sắp sáng, tôi càng cảm phục tấm lòng của người đồng đội có nhiều chữ “đồng” với mình.
Về kỹ thuật viết lách, kết cấu, câu chữ, tư liệu và những điều cần chỉnh sửa, có lẽ chúng tôi sẽ còn bàn với nhau nhiều. Một bản thảo vài trăm trang chắc chắn còn phải tiếp tục gia công trước khi đến với bạn đọc.
Nhưng đó là chuyện của nghề.
Điều tôi cảm nhận đầu tiên và rõ nhất sau một đêm đọc bản thảo là tình yêu quê hương và tình nghĩa đồng đội của Trần Đẩu.
Tôi tin rằng, khi một người cầm bút viết từ những gì đã sống, đã chứng kiến, đã chịu đựng và đã mang theo suốt cả cuộc đời, trang viết sẽ có một thứ sức nặng riêng. Không cần lên gân. Không cần tô vẽ. Không cần cố làm cho ký ức lớn hơn chính nó.
Chỉ cần sự thật của một đời người.
Trần Đẩu đã viết từ chính phần đời ấy.
Một người lính trở về với quê hương.
Một người đồng đội trở về với đồng đội.
Và một người cầm bút trả món nợ ký ức bằng những trang sách.
Xin chúc mừng anh, người bạn có nhiều chữ “đồng” với tôi.
Và trân trọng giới thiệu với bạn đọc những trang viết về quê hương và đồng đội của Trần Đẩu.
Sài Gòn, 10-2026
Đại tá, Nhà báo Trần Thế Tuyển
